H»c vi»‡n Ng¢n h ng 2011 - vapcf.org. H»c vi»‡n Ng¢n h ng 2011 Hot ‘»™ng ng¢n h ng

  • View
    221

  • Download
    0

Embed Size (px)

Text of H»c vi»‡n Ng¢n h ng 2011 - vapcf.org. H»c vi»‡n...

  • Học viện Ngân hàng 2011

    Hoạt động ngân hàng Việt Nam - Điểm lại năm 2011 và Dự báo năm 2012 1

    1.3. Huy động vốn khó khăn và thanh khoản trở thành mối quan ngại sâu sắc với hệ

    thống ngân hàng

    (i) Thị trường huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế sụt giảm so với các năm trước

    Đối với toàn bộ thị trường, lượng tiền gửi huy động đã suy giảm nhanh chóng. Theo NHNN,

    số dư tiền gửi của khách hàng tại các NHTM tháng 10/2011 giảm 0,74% so với tháng 9, còn

    tháng 9 giảm 1,07% so với tháng 8 và giảm mạnh nhất là tiền gửi VND. Đến cuối tháng

    10/2011, huy động thị trường I đạt 2.819,6 nghìn tỷ đồng, chỉ tăng 8,4% so cuối năm 2010

    (bình quân tháng tăng 0,84%; trong khi mức bình quân tháng của năm 2010 là 3,1%).

    Tính từ thời điểm tháng 3/2011 khi Thông tư 07 được ban hành, số dư tiền gửi của khu vực

    ngân hàng giảm trong 2 tháng kế tiếp đó (tháng 3 và 4/2011). Sau đó, tỷ lệ này tăng trở lại với

    biên độ không ổn định. Đáng chú ý là tổng tiền gửi của các tổ chức kinh tế tại NHTM đã giảm

    mạnh trong năm 2011, dẫn đến giảm tốc độ luân chuyển tiền tệ của toàn nền kinh tế. Thêm

    vào đó, chính sách trần lãi suất huy động VND ở mức 14% đã gây ra sự suy giảm nguồn vốn

    huy động tiền gửi từ dân cư, đồng thời khuyến khích sự tích lũy “đóng băng” dưới các dạng

    tài sản khác (chủ yếu là vàng, ngoại tệ, bất động sản...) của dân chúng. Điều này làm trầm

    trọng hóa vấn đề vàng hóa và đô la hóa, vốn tồn tại cố hữu trong nền kinh tế Việt Nam từ lâu.

    Thị trường vàng cũng đã chứng kiến nhiều biến động trong tháng 9 khi nhu cầu tích trữ của

    người dân tăng mạnh khiến NHNN phải cho phép nhập vàng nhằm bình ổn thị trường.

    (ii) Các “đối phó” với chính sách nhằm đảm bảo thanh khoản

    Cuộc đua lãi suất giữa các NHTM những tháng cuối năm 2010 vẫn được tiếp tục trong năm

    2011 với lãi suất huy động phổ biến ở mức 14- 16%, bất chấp đồng thuận lãi suất của các

    thành viên Hiệp hội Ngân hàng. Lãi suất huy động VND có kỳ hạn tháng 2/2011 vẫn ở mức

    14%/năm, nhưng lãi suất huy động không kỳ hạn đã tăng từ 3%/năm lên 8-9%/năm, thậm chí

    Seabank đưa ra sản phẩm có lãi suất không kỳ hạn lên 12%/năm. Nhằm hạn chế cuộc đua lãi

    suất và kéo hạ lãi suất cho vay, NHNN ban hành Thông tư 02/TT-NHNN ngày 3/3/2011 quy

    định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng VND của các NHTM bao gồm cả khoản chi

    khuyến mại dưới mọi hình thức không vượt quá 14%/năm, riêng các Quỹ tín dụng nhân dân

    cơ sở không vượt quá 14,5%/năm. Đồng thời, NHNN ban hành Thông tư 09/2011/TT-NHNN

    áp dụng từ 13/4/2011 quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng USD của NHTM

    là 1,0%/năm (giữ nguyên so với mức cũ) và đối với cá nhân là 3,0%/năm (trước đó các

    NHTM huy động lãi suất USD từ 5- 6%/năm).

    Tuy nhiên, việc tăng giá xăng dầu 2 lần, vào ngày 24/2/2011 và 29/3/2011, và tăng giá điện

    bình quân 15,28% so với mức áp dụng năm 2010 kể từ 01/3/2011, đã khiến kỳ vọng lạm phát

    tăng cao. Bên cạnh đó, các mặt hàng lương thực thực phẩm cũng tăng giá mạnh do tác động

    của tăng giá thế giới cũng như nguồn cung trong nước thiếu hụt, đã gây áp lực gia tăng lớn

    đến lạm phát. Các NHTM đã thực hiện các biện pháp “lách luật” với nhiều sáng tạo trong các

    sản phẩm huy động như: “tiết kiệm lãi suất linh hoạt”, “tiết kiệm rút gốc linh hoạt”, “nhận

    tiền gửi tiết kiệm bằng VND đảm bảo bằng USD” hoặc sản phẩm “hợp tác đầu tư, nhận vốn

    và cho vay theo yêu cầu của bên ủy thác” được phát triển phổ biến trong hệ thống NHTM.

  • Học viện Ngân hàng 2011

    Hoạt động ngân hàng Việt Nam - Điểm lại năm 2011 và Dự báo năm 2012 2

    Trước tình hình đó, NHNN tiếp tục ban hành Thông tư số 04/2011/TT-NHNN quy định áp

    dụng lãi suất không kỳ hạn trong trường hợp tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn tại các

    NHTM. Để đối phó, các khoản tiền gửi rút gốc linh hoạt trước đây của các NHTM được

    chuyển thành các kỳ hạn 1 tuần, 2 tuần hoặc không kỳ hạn. Hơn thế, sự căng thẳng về thanh

    khoản thể hiện rõ qua việc niêm yết lãi suất gần như ở mức ngang bằng nhau (và bằng đúng

    lãi suất trần 14%) trong các kỳ hạn từ 1 đến 12 tháng tại các ngân hàng trong 5 tháng đầu năm

    2011. Với CPI tháng 4/2011 tăng tới 3,32% so với tháng trước, mức tăng cao nhất kể từ tháng

    3/2008, và tăng 9,64% so với tháng 12/2010, vượt xa mức chỉ tiêu 7% cho cả năm được Quốc

    hội phê duyệt, nhiều NHTM đã dùng nhiều biện pháp “phá trần lãi suất huy động” lên trên

    17%/năm, thậm chí có nơi lên tới 20%/năm. Tình hình vi phạm trần lãi suất tiếp diễn cho đến

    đầu tháng 9, khi Chỉ thị 02/CT-NHNN ngày 7/9/2011 được ban hành, yêu cầu chấp hành quy

    định trần lãi suất huy động của các NHTM là 14%/năm đối với VND; huy động USD là

    2%/năm đối với cá nhân và 0,5%/năm đối với tổ chức. Chỉ thị 02/CT-NHNN cũng nêu rõ

    những biện pháp xử lý đối với các NHTM cố tình vi phạm trần lãi suất huy động nhằm xác

    lập lại kỷ luật thị trường. Tuy nhiên, một số NHTM tiếp tục lách quy định này bằng cách áp

    dụng mức lãi suất 14%/năm đối với cả các khoản tiền gửi kỳ hạn ngày, tuần, khiến cho lãi

    suất thực tế lên cao hơn 14%/năm. Vì vậy, NHNN đã phải ban hành Thông tư 30/TT-NHNN

    ngày 28/9, quy định rõ trần lãi suất huy động 14%/năm được áp dụng đối với tiền gửi VND

    có kỳ hạn 1 tháng trở lên, với kỳ hạn dưới 1 tháng và không kỳ hạn, lãi suất huy động tối đa là

    6%/năm. Trước những hành động quyết liệt của NHNN, “chính sách trần lãi suất huy động”

    đã phát huy tác dụng theo đúng bản chất của nó. Đó là giúp xác định rõ những NHTM hoạt

    động không hiệu quả, sử dụng biện pháp cạnh tranh lãi suất huy động nhằm đầu tư vào lĩnh

    vực bất động sản.

    (iii) Thanh khoản căng thẳng do hệ lụy của “độ trễ” của tăng trưởng tín dụng thiếu hợp lý

    trong giai đoạn 2007- 2010

    Tình hình thanh khoản của một số NHTM Việt Nam trở nên căng thẳng một phần do tiền gửi

    suy giảm trong toàn bộ nền kinh tế, nhưng một phần nguyên nhân quan trọng bắt nguồn từ

    việc tăng trưởng tín dụng bất hợp lý trong giai đoạn trước đây. Không tính những ngân hàng

    như ACB hoặc trường hợp đặc thù của HabuBank và SHB, các ngân hàng còn lại trong hình 9

    đều có xu thế tăng mạnh tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi. Thực tế là các NHTM không hề dễ

    dàng trong xử lý vấn đề thanh khoản khi đã cấp nhiều khoản tín dụng bất động sản trong các

    năm trước đây.

    Hình 9. Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi khách hàng tính đến 9/2011

  • Học viện Ngân hàng 2011

    Hoạt động ngân hàng Việt Nam - Điểm lại năm 2011 và Dự báo năm 2012 3

    Nguồn: Báo cáo thường niên, báo cáo tài chính quý 3/2011 các NHTM.

    (iv) Xuất hiện sự chuyển dịch vốn huy động từ các NHTM nhỏ sang các NHTM lớn khiến cho

    tổng huy động trên thị trường I suy giảm

    Thực tế cho thấy, trong giai đoạn đầu năm, các NHTM lớn như Agribank, Vietinbank,

    BIDV,... đã có sự giảm sút đáng kể nguồn vốn huy động, trong khi các NHTM nhỏ có sự gia

    tăng mạnh vốn huy động kể từ khi chính sách trần lãi suất huy động 14% có hiệu lực từ ngày

    03/3/2011. Tuy nhiên, trong nửa cuối năm, sự dịch chuyển này có xu hướng ngược lại. Rõ

    ràng, do NHNN áp dụng các biện pháp đồng bộ liên quan đến trần lãi suất huy động, các

    NHTM có quy mô nhỏ gặp khó khăn hơn trong việc huy động tiền gửi so với các NHTM có

    quy mô lớn, buộc các NHTM có quy mô nhỏ khi gặp áp lực thanh